Bào chữa vụ án “Tranh chấp đất đai” tại tỉnh Nghệ An

Ngày 21/7, Trung tâm Tư vấn Pháp luật tỉnh Quảng Trị đã cử luật sư tham gia bào chữa vụ án “Tranh chấp đất đai” cho bà Phan Thị Mỳ, trú tại xóm Đông Thị, xã Đông Thành, tỉnh Nghệ An (là nguyên đơn) diễn ra tại TAND Khu vực 6, tỉnh Nghệ An.

Ngày 21/7, Trung tâm Tư vấn Pháp luật tỉnh Quảng Trị đã cử luật sư tham gia bào chữa vụ án "Tranh chấp đất đai" cho bà Phan Thị Mỳ, trú tại xóm Đông Thị, xã Đông Thành, tỉnh Nghệ An (là nguyên đơn).
Trung tâm Tư vấn Pháp luật tỉnh Quảng Trị đã cử luật sư tham gia bào chữa vụ án “Tranh chấp đất đai” cho bà Phan Thị Mỳ, trú tại xóm Đông Thị, xã Đông Thành, tỉnh Nghệ An (là nguyên đơn) diễn ra tại TAND Khu vực 6, tỉnh Nghệ An.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, tôi xin trình bày quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn như sau:

Thứ nhất, về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất cũng như xác định di sản thừa kế mà ông Phan Văn Quỳnh và bà Phan Quỳnh để lại.

Căn cứ đo đạc bản đồ giải thửa năm 1992-1993 tại xã Đô Thành và lập sổ mục kê xác định thửa đất đang tranh chấp gồm 02 thửa là thửa đất số: 1393, tờ bản đồ số: 1, diện tích 725 m2 (GCNQSDĐ) đứng tên ông Phan Quỳnh và thửa đất số: 1384, tờ bản đồ số: 1, diện tích 576 m2, thể hiện trong GCNQSDĐ là đứng tên bà Phan Quỳnh.

Các thửa đất đang tranh chấp là đất thổ cư lâu đời của cha mẹ sinh ra ông Phan Văn Quỳnh (chồng bà Nguyễn Thị Dục (bà lớn)). Thửa đất này được cha mẹ đẻ của ông Quỳnh sử dụng làm nhà ở và sinh sống ổn định và đến năm 1940 tặng cho quyền sử dụng đất cho con trai là ông Phan Văn Quỳnh sinh sống cùng vợ cả là bà Nguyễn Thị Dục.

UBND huyện Yên Thành đã cấp GCN QSDĐ cho ông Phan Văn Quỳnh, bà Nguyễn Thị Dục (bà Phan Quỳnh) 02 thửa đất như sau:

+ GCNQSDĐ mang tên ông Phan Văn Quỳnh số E984049 tại thửa đất số: 1393, tờ bản đồ số: 1, diện tích 735 m2. Có vị trí ngày nay là thửa đất số: 86, tờ bản đồ số: 10, diện tích: 811 m2.

+ GCNQSDĐ mang tên bà Phan Quỳnh tại thửa đất số: 1384, tờ bản đồ số: 1, diện tích 576 m2. Có vị trí ngày nay là thửa đất số 87, tờ bản đồ số: 10, diện tích 652 m2.

Các thửa đất nêu trên đều có nguồn gốc được bố mẹ ông Phan Văn Quỳnh tặng cho ông Phan Văn Quỳnh cùng chung sống với bà Nguyễn Thị Dục, căn cứ vào bản đồ giải thửa năm 1992 – 1993, nguồn gốc sử dụng đất cũng như quá trình sử dụng đất có thể khẳng định các thửa đất nêu trên là tài sản chung của ông Phan Văn Quỳnh và bà Nguyễn Thị Dục.

Thứ hai, tính hợp pháp của việc chỉnh lý đăng ký biến động trên GCN ngày 15/06/2015

Về nội dung chỉnh lý: Bà Dục (Phan Quỳnh) mất năm 2002, nhưng đến năm 2015 lại có hồ sơ “hợp nhất” nhân thân bà Phan Quỳnh và bà Trần Thị Tần là một người. Trong khi đó bà Nguyễn Thị Dục hay bà Phan Quỳnh (bà lớn) Trần Thị Tần (bà Bé) là hai người khác nhau. Việc cập nhật, bổ sung họ tên bà Trần Thị Tần là bà Phan Quỳnh trên giấy chứng nhận QSDĐ số: E 984049 tại thửa đất số: 1384 nay là thửa đất số: 87, tờ bản đồ số: 10 là không đúng vì bà Trần Thị Tần không phải là người được nhà nước giao đất, không phải là người sử dụng đất theo quy định tại Điều 5, Luật đất đai 2013.

Do đó, việc UBND xã, chi nhánh VPĐK đất đai huyện Yên Thành, UBND huyện Yên Thành căn cứ vào văn bản xác nhận có nội dung không đúng ghi nhận tên bà Phan Quỳnh là bà Trần Thị Tần để đăng ký biến động t vào GCNQSDĐ nêu trên là không có cơ sở. Căn cứ Điều 95 Luật đất đai 2013 đề nghị Toà án huỷ đăng ký biến động ngày 15/06/2015.

Thứ ba, việc ký các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thực hiện tách thửa cho vợ chồng ông Hồng và vợ chồng ông Đệ là không có cơ sở.

Từ việc đăng ký biến động điều chỉnh tên của bà Trần Thị Tần nêu trên là không đúng. Bà Tần không phải là người sử dụng đất nên không có quyền tách thửa. Do đó, UBND huyện Yên Thành tỉnh Nghệ An tách thửa cấp GCN QSDĐ thành 02 thửa đất số: 1854, tờ bản đồ số: 10 và thửa đất số: 1853, tờ bản đồ số: 10 là không đúng theo quy định Điều 99 luật đất đai 2013: Việc tách thửa cấp giấy chứng nhận phải do người sử dụng đất thực hiện.

Do đó, bà Tần không có quyền chuyển nhượng các thửa đất nên việc bà Tần ký kết hợp đồng hợp chuyển nhượng thửa đất số: 1854, tờ bản đồ số: 10 cho ông Phan Văn Hồng, bà Vũ Thị Như và ký kết hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số: 1853, tờ bản đồ số: 10 cho ông Phan Văn Đệ và bà Chu Thị Tín là không đúng theo quy định Điều 167 Luật đất đai 2013:

‘’1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này.’’

Các chị em con của bà Dục khẳng định không họp gia đình, không ký biên bản thỏa thuận điểm chỉ hay từ chối di sản, thông tin người sử dụng đất là bà Phan Quỳnh và bà Trần Thị Tần trong hồ sơ đăng ký biến động về việc cập nhật tên người sử dụng đất không phải là 1 người. Hơn nữa bà Tần không có giấy tờ chứng minh việc đại diện thực hiện các quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tách thửa. Căn cứ Điều 145 Bộ luật dân sự 2005 về hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện:

‘’1. Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện.’’

Từ các căn cứ nêu trên có thể khẳng định, việc bà Tần không phải là người sử dụng đất nhưng thực hiện tách thửa và chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho các con là không có cơ sở.

Do đó, đề nghị quý tòa huỷ đăng ký biến động ngày 15/06/2025, huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, huỷ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 1853, tờ bản đồ số: 10, xã Đô Thành, diện tích 285m2 mang tên vợ chồng anh Phan Văn Đệ và Chu Thị Tín và GCNQSDĐ số CH 01465 tại  thửa đất số: 1854, tờ bản đồ số: 10, xã Đô Thành, diện tích 367 m2 mang tên Phan Văn Hồng và Vũ Thị Thư.

Thứ tư, về quan hệ nhân thân: xác định quan hệ hôn nhân thực tế của ông Phan Văn Quỳnh và bà Nguyễn Thị Dục, bà Trần Thị Tần.

Căn cứ vào Án lệ 41/2021/AL quy định: Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn nhưng sau đó họ không còn chung sống với nhau và trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực, có người chung sống với nhau như vợ chồng với người khác. Quan hệ hôn nhân đầu tiên và quan hệ hôn nhân thứ hai đều là hôn nhân thực tế. Trường hợp này, phải xác định hôn nhân thực tế đầu tiên đã chấm dứt. Căn cứ: Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng với Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015)”.

Qua đó có thể thấy, quan hệ hôn giữa ông Quỳnh và bà Dục được xác lập từ 1940 (trước 1987) và quan hệ hôn nhân giữa ông Quỳnh đưa bà Tần (xác lập năm 1971) đều là hôn nhân thực tế. Ông Quỳnh và cụ Dục đã thực hiện việc chia đất, tách hộ, ở riêng và tự lập làm ăn hoàn toàn kể từ thời điểm ông Quỳnh và bà Tần ra ở riêng nên quan hệ hôn nhân thực tế giữa ông Quỳnh và bà Dục đã chấm dứt và hôn nhân thực tế giữa ông Quỳnh với và Tần được công nhận từ thời điểm 1971.

Thứ năm: Xác định di sản ông Phan Văn Quỳnh và bà Phan Quỳnh (bà Dục) để lại và phương án chia thừa kế:

Căn cứ Điều 612 BLDS 2015, di sản của ông Phan Văn Quỳnh và bà Phan Quỳnh (bà Nguyễn Thị Dục) để lại bao gồm:

+ 01 nhà và đất  theo GCNQSDĐ mang tên ông Phan Văn Quỳnh số vào sổ số: 108/QSDĐ tại thửa đất số: 1393, tờ bản đồ số: 1, diện tích 735 m2. Có vị trí ngày nay là thửa đất số: 86, tờ bản đồ số: 10, diện tích: 811 m2.

+ 01 nhà và đất theo GCNQSDĐ mang tên bà Phan Quỳnh số vào số số: 108/QSDĐ tại thửa đất số: 1384, tờ bản đồ số: 1, diện tích 576 m2. Có vị trí ngày nay là thửa đất số 87, tờ bản đồ số: 10, diện tích: 652 m2.

Đây là tài sản chung của ông Phan Văn Quỳnh và bà Phan Quỳnh trong thời kỳ hôn nhân, nên mỗi người có phần di sản để lại bằng ½ giá trị nhà đất.

Thứ sáu: Xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn Quỳnh và bà Nguyễn Thị Dục (bà Phan Quỳnh)

Ông Phan Văn Quỳnh chết năm 2002. Căn cứ Điều 651, Điều 652 Bộ luật dân sự 2015 Những người thừa kế được hưởng di sản của ông Phan Văn Quỳnh để lại bao gồm:

  • 05 người con của ông Quỳnh với bà Dục: Trong đó bà Phan Thị Khương đã chết năm 1978 không có con cái và bà Phan Thị Thuỷ đã chết năm 1985 (Những người con của bà Thuỷ được hưởng thừa kế thế vị, tại thời điểm mở thừa kế, ông Quỳnh và bà Dục đã chấm dứt quan hệ hôn nhân thực tế nên bà Dục không thuộc hàng thừa kế của ông Quỳnh) và 06 người con chung của ông Quỳnh với bà Trần Thị Tần, bà Trần Thị Tần (đang là vợ hợp pháp của ông Quỳnh theo hôn nhân thực tế).

Những người thừa kế của ông Phan Văn Quỳnh bao gồm:

STT Người thừa kế Quan hệ
1 Bà Phan Thị Mỳ Con ông Phan Văn Quỳnh và bà Nguyễn Thị Dục
2 Bà Phan Thị Đích Con ông Phan Văn Quỳnh và bà Nguyễn Thị Dục
3 Bà Phan Thị Kính Con ông Phan Văn Quỳnh và bà Nguyễn Thị Dục
4 Anh Trần Văn Hoài

Anh Trần Văn Tuấn

Anh Trần Thị Thắm

Con bà Phan Thị Thuỷ, cháu ngoại ông Phan Văn Quỳnh và bà Nguyễn Thị Dục

(được hưởng thừa kế thế vị phần thừa kế của bà Phan Thị Thuỷ)

5 Ông Phan Văn Hồng Con ông Phan Văn Quỳnh và bà Trần Thị Tần
6 Ông Phan Văn Đệ Con ông Phan Văn Quỳnh và bà Trần Thị Tần
7 Bà Phan Thị Hương Con ông Phan Văn Quỳnh và bà Trần Thị Tần
8 Bà Phan Thị Hoa Con ông Phan Văn Quỳnh và bà Trần Thị Tần
9 Bà Phan Thị Hà Con ông Phan Văn Quỳnh và bà Trần Thị Tần
10 Bà Phan Thị Yến Con ông Phan Văn Quỳnh và bà Trần Thị Tần
11 Bà Trần Thị Tần Vợ hợp pháp của ông Quỳnh

Bà Nguyễn Thị Dục chết năm 2002, Căn cứ Điều 651, Điều 652 Bộ luật dân sự 2015 Những người thừa kế được hưởng di sản của ông Phan Văn Quỳnh để lại bao gồm: 05 người con của ông Quỳnh với bà Dục: Trong đó bà Phan Thị Khương đã chết năm 1978 không có con cái và bà Phan Thị Thuỷ đã chết năm 1985 (Những người con của bà Thuỷ được hưởng thừa kế thế vị). Tại thời điểm mở thừa kế, ông Quỳnh và bà Dục đã chấm dứt quan hệ hôn nhân thực tế nên bà Dục không thuộc hàng thừa kế của ông Quỳnh.

=> Như vậy, những người được hưởng di sản thừa kế bao gồm:

STT Người thừa kế Quan hệ
1 Bà Phan Thị Mỳ Con ông Phan Văn Quỳnh và bà Nguyễn Thị Dục
2 Bà Phan Thị Đích Con ông Phan Văn Quỳnh và bà Nguyễn Thị Dục
3 Bà Phan Thị Kính Con ông Phan Văn Quỳnh và bà Nguyễn Thị Dục
4 Anh Trần Văn Hoài

Anh Trần Văn Tuấn

Anh Trần Thị Thắm

Con bà Phan Thị Thuỷ, cháu ngoại ông Phan Văn Quỳnh và bà Nguyễn Thị Dục

(được hưởng thừa kế thế vị phần thừa kế của bà Phan Thị Thuỷ)

Tại phiên xét xử, TAND Khu vực 6, tỉnh Nghệ An đã chấp thuận hoàn toàn đơn khởi kiện và luận cứ bão chữa của luật sư Trung tâm Tư vấn Pháp luật tỉnh Quảng Trị bảo vệ cho bà Phan Thị Mỳ về chia thừa kế phần di sản của ông Phan Văn Quỳnh và bà Phan Quỳnh để lại. Quá trình nghị án, HĐXX đã tuyên án đúng theo quy định của pháp luật.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *